Khác với glôcôm góc mở nguyên phát, glôcôm góc đóng nguyên phát là một tình trạng rối loạn về giải phẫu do chân mống mắt bị đẩy hoặc bị kéo ra phía trước che lấp vùng bè và gây nghẽn góc tiền phòng. Những tổn thương thần kinh thị giác do glôcôm gây ra là không có khả năng hồi phục. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời cho người bệnh là rất quan trọng.
Glôcôm góc đóng nguyên phát có nghẽn đồng tử
Glôcôm góc đóng cấp tính
Glôcôm góc đóng cấp tính xảy ra khi nhãn áp tăng cao một cách nhanh chóng. Bệnh khởi phát đột ngột, diễn biến rầm rộ, thời điểm khởi phát thường vào buổi chiều tối hoặc sau cơn xúc động mạnh. Người bệnh sẽ có những triệu chứng khác nhau tùy theo mỗi thể bệnh
Glôcôm góc đóng bán cấp
Biểu hiện của glôcôm góc đóng bán cấp bao gồm: Giảm thị lực, nhìn thấy quầng sáng như hào quang, đau nhức nhẹ trong mắt và đầu. Các triệu chứng này thường tự qua đi và nhãn áp thường giữ ở mức bình thường giữa các cơn ngay cả khi không điều trị.
Glôcôm góc đóng mạn tính
Glôcôm góc đóng mạn tính thường ít gặp, xảy ra sau glôcôm góc đóng cấp hoặc khi góc tiền phòng đóng dần và nhãn áp tăng dần.
Biểu hiện lâm sàng của glôcôm góc đóng mạn tính thường không có triệu chứng điển hình, nhãn áp tăng vừa phải, lõm gai phát triển dần và tổn hại thị trường đặc biệt của glôcôm.
Glôcôm góc đóng nguyên phát không có nghẽn đồng tử
Các biểu hiện lâm sàng của glôcôm góc đóng nguyên phát không có nghẽn đồng tử thường ít hoặc hầu như không có triệu chứng đau nhức. Bệnh thường được phát hiện khi ở đã giai đoạn muộn, có tổn thương nặng đĩa thị và tổn hại thị trường đặc hiệu của glôcôm.
Giống như glôcôm góc mở, bệnh glôcôm góc đóng nếu không được điều trị sớm và kiểm soát tốt nhãn áp thì bệnh sẽ dẫn đến mù lòa vình viễn cho người bệnh.
Các biến chứng nặng thường gặp sau khi phẫu thuật glôcôm:
Đây là bệnh nguy hiểm, rất khó phát hiện thông qua các triệu chứng thông thường hoặc bị nhầm lẫn với các bệnh về mắt khác. Do đó, bạn nên đi khám mắt định kỳ để theo dõi sức khỏe của mắt. Hoặc khi thấy xuất hiện các triệu chứng nêu trên, bất thường về thị lực hoặc có nghi ngờ về glôcôm, cần liên hệ ngay với bác sĩ để được tư vấn, kiểm tra và điều trị sớm sẽ giảm nguy cơ tăng nặng của bệnh và mau chóng hồi phục.
Nguyên nhân gây ra bệnh glôcôm góc đóng nguyên phát gồm hai nguyên nhân chính sau:
Glôcôm góc đóng nguyên phát là bệnh lý thường gặp ở nữ giới cao hơn nam giới, đặc biệt ở giai đoạn mãn kinh.
Một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc glôcôm góc đóng nguyên phát, bao gồm:
Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh:
Nguyên tắc điều trị chung: Tích cực, nhanh chóng làm hạ nhãn áp bằng thuốc để ngăn tổn hại thêm cho thị thần kinh.
Phương pháp điều trị glôcôm góc đóng chủ yếu là phẫu thuật (hoặc sử dụng dụng laser). Việc điều trị bằng thuốc chỉ có tác dụng bổ trợ và chuẩn bị trước khi phẫu thuật, không có khả năng làm khỏi bệnh, cũng như ngăn chặn hiện tượng dính góc và làm nghẽn góc do cấu trúc giải phẫu đặc biệt ở mắt.
Điều trị hạ nhãn áp bằng thuốc
Điều trị laser
Cắt mống mắt bằng laser
Phương pháp điều trị triệt để glôcôm do nghẽn đồng tử bằng cách tạo ra một đường khác để thủy dịch bị nghẽn lại ở hậu phòng có thể thoát ra tiền phòng; do đó, mống mắt tách ra xa vùng bè.
Loại laser: Laser ruby, laser argon, laser diode, laser Nd: YAG,… Trong đó, laser argon và laser YAG được dử dụng rộng rãi nhất hiện nay.
Những biến chứng có thể gặp (tỷ lệ xảy ra các biến chứng không nhiều):
Điều trị phẫu thuật
Cắt mống mắt chu biên
Phẫu thuật tạo đường lưu thông thủy dịch từ hậu phòng ra tiền phòng để giải quyết nghẽn đồng tử.
Chỉ định:
Hẹn khám định kỳ: Kiểm tra nhãn áp, đĩa thị và soi góc tiền phòng (nếu cần).
Tạo hình mống mắt bằng laser
Trong trường hợp nhãn áp không điều chỉnh sau điều trị bằng lase cắt mống mắt chu biên.
Cắt bè củng giác mạc (trabeculectomy)
Chỉ định:
Chế độ sinh hoạt
Chế độ dinh dưỡng
Bổ sung các loại thực phẩm chứa nhiều dưỡng chất có lợi cho mắt như Omega 3, các vitamin A, B, C, D,…
Cho đến nay, chưa có biện pháp nào có thể phòng bệnh glôcôm.
Vì vậy, phát hiện sớm và điều trị sớm, kết hợp theo dõi thường xuyên là rất quan trọng.
Các đối tượng có nguy cơ mắc glôcôm cần đo nhãn áp, khám đánh giá tình trạng đĩa thị để có thể phát hiện bệnh kịp thời.
Người trên 40 tuổi nên khám mắt theo định kỳ 1 năm một lần.
Những người có tiền sử gia đình mắc glôcôm nên khám mắt 6 tháng một lần để tầm soát và kịp thời phát hiện bệnh và điều trị sớm.